Bạn đang ở mục: Trang chủ » Chức năng - nhiệm vụ » Văn phong thua phat lai – Chế định thừa phát lại và lợi ích cho doanh nghiệp

Ngày 24.7.2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại TP.HCM và sẽ có hiệu lực vào ngày 9.9.2009 (Nghị định 61).

Thừa phát lại là gì?

Theo Nghị định 61, thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan. Cá nhân muốn được bổ nhiệm làm thừa phát lại phải đạt được những tiêu chuẩn tương đương với một chấp hành viên trung cấp. Để trở thành thừa phát lại, cá nhân làm hồ sơ xin được bổ nhiệm cho Sở Tư pháp TP.HCM xem xét, nếu cá nhân đáp ứng đủ các điều kiện theo luật định thì Sở Tư pháp sẽ trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định bổ nhiệm cá nhân đó làm thừa phát lại.

Quyền của thừa phát lại

Theo Nghị định 61, Thừa phát lại được:

Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự.

Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự.

Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.

Trong số công việc thừa phát lại được phép thực hiện thì lập vi bằng là một công việc tương đối mới và gần giống với hoạt động công chứng nhưng rộng hơn rất nhiều. Nếu công chứng chỉ chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản, thì lập vi bằng là việc thừa phát lại lập văn bản trong đó ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác.

Luật cũng quy định rõ ràng về giá trị pháp lý của vi bằng. Theo đó, vi bằng có giá trị chứng cứ để tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Vì thế, bất kỳ một giao dịch, một hoạt động kinh doanh, một sự kiện mà doanh nghiệp thấy cần phải lưu giữ để làm chứng cứ pháp lý nhằm giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai thì doanh nghiệp đều có thể sử dụng đến dịch vụ lập vi bằng của thừa phát lại.

Bên cạnh đó, trong công tác thi hành án, thừa phát lại có quyền như chấp hành viên quy định tại điều 20 của Luật Thi hành án dân sự, trừ khoản 9, khoản 10 và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Văn phòng thừa phát lại

Khác với cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại là do tổ chức, cá nhân tự lập ra khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của điều 16 Nghị định 61 về điều kiện cơ sở vật chất và cơ cấu tổ chức bộ máy. Khi đã đáp ứng đủ điều kiện, tổ chức, cá nhân phải nộp đủ hồ sơ hợp lệ cho Sở Tư pháp TP.HCM để trình Ủy ban Nhân dân TP.HCM. Trong vòng 15 ngày, trên cơ sở hồ sơ hợp lệ nhận được, Ủy ban Nhân dân TP.HCM sẽ xem xét, quyết định cho phép thành lập hay không thành lập văn phòng thừa phát lại.

Văn phòng thừa phát lại có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính. Đặc biệt, văn phòng thừa phát lại phải ký quỹ 100 triệu đồng cho mỗi thừa phát lại hoặc có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Việc ký quỹ được thực hiện tại tổ chức tín dụng trên địa bàn TP.HCM.

Nếu như thừa phát lại hoạt động hiệu quả tại TP.HCM, mô hình này sẽ được nhân rộng ra cả nước. Khi đó, việc giải quyết các tranh chấp thương mại sẽ được nhẹ gánh rất nhiều, thời gian giải quyết tranh chấp cũng nhanh, phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp có thể sẽ chính xác, công bằng cho các bên hơn

Công ty Luật Dragon
© 2010 Văn phòng thừa phát lại, Van phong thua phat lai, Thừa Phát lại, Thua phat lai, thừa phát lại Việt Nam – Công ty Luật Dragon